A- A A+ | Chia sẻ bài viết lên facebook Chia sẻ bài viết lên twitter Chia sẻ bài viết lên google+

Giáo dục thường xuyên trong xã hội học tập

Thuật ngữ “giáo dục thường xuyên” được nhiều người nói tới hằng ngày trên các phương tiện thông tin đại chúng. Người đọc và nghe dường như không còn xa lạ với thuật ngữ này. Song, nếu đi sâu vào nội hàm và ngoại diên của nó - tức là xem xét nó như một khái niệm - thì mới vỡ lẽ ra rằng, trong quan niệm của con người, cho đến nay người ta vẫn không thống nhất về định nghĩa thế nào là giáo dục thường xuyên.

Khái niệm “Giáo dục thường xuyên”

Ở nhiều quốc gia, người ta hiểu rằng, công việc giáo dục phải được tiến hành đối với mọi lứa tuổi, từ lúc lọt lòng cho đến lúc kết thúc cuộc sống. Cái quá trình giáo dục đó, không phân biệt học trong nhà trường hay học ngoài xã hội hoặc tại gia đình, học có mục đích hay học ngẫu nhiên, học theo hệ thống tri thức và kỹ năng hoặc cần gì học nấy - đều phải được quan tâm và phải có sự quản lý từ phía Nhà nước được hiểu là giáo dục thường xuyên. Với cách hiểu này, giáo dục thường xuyên là một chính sách xã hội của một xã hội hiện đại, trong đó học tập là quyền của con người. Như vậy, nếu phân chia hệ thống giáo dục ra làm 2 hệ nhỏ thành phần là hệ thống giáo dục ban đầu và hệ thống giáo dục tiếp tục, thì sự liên kết, liên thông, kết nối và được tiến hành không đứt đoạn nhờ sự đan xen và liên tục của sự học ở mỗi con người được gọi là giáo dục thường xuyên.

Ở một số nước, trong đó có Việt Nam, lại gộp các loại hình học tập không chính quy vào khái niệm giáo dục thường xuyên. Từ cách hiểu này, chúng ta sẽ thấy lôgíc hình thức trong nhận thức về nền giáo dục thường xuyên ở nước ta như sau:

Giáo dục thường xuyên là một hệ thống gồm các loại hình học tập thuộc phạm vi giáo dục tiếp tục. Do vậy, giáo dục thường xuyên không bao hàm các hình thức giáo dục chính quy trong hệ giáo dục ban đầu. Nói đến giáo dục thường xuyên, người ta hiểu rằng đó là giáo dục tiếp tục.

- Việc phổ cập giáo dục cho thế hệ trẻ được đẩy mạnh để đến năm 2010, về cơ bản, nước ta sẽ phổ cập giáo dục trung học cơ sở đúng độ tuổi và việc học cưỡng bức này sẽ áp dụng cho cấp trung học (hoàn chỉnh) vào khoảng 2020. Còn giáo dục thường xuyên chủ yếu dành cho người lớn. Trong trường hợp này, giáo dục thường xuyên trùng khớp với giáo dục người lớn.

- Theo quy định của luật giáo dục 2005, giáo dục tiếp tục bao gồm mọi loại hình giáo dục không chính quy. Do tính chất bắc cầu trong quan niệm nói trên nên nói đến giáo dục thường xuyên là ai cũng hiểu rằng đó là giáo dục không chính quy.

Cách biểu hiện trên được quy định trong Luật Giáo dục 2005 của nước ta­­(1)

Điều 44: Giáo dục thường xuyên giúp mọi người vừa học vừa làm, học liên tục, học suốt đời nhằm hoàn thiện nhân cách, mở rộng hiểu biết, nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ để cải thiện chất lượng cuộc sống, tìm việc làm, tự tạo việc làm và thích nghi với đời sống xã hội.

Nhà nước có chính sách phát triển giáo dục thường xuyên, thực hiện giáo dục cho mọi người, xây dựng xã hội học tập.

Điều 45: Yêu cầu về chương trình, nội dung, phương pháp giáo dục thường xuyên.

1. Nội dung giáo dục thường xuyên được thể hiện trong các chương trình sau:

a) Chương trình xoá mù chữ và giáo dục tiếp tục sau khi biết chữ;

b) Chương trình giáo dục đáp ứng yêu cầu của người học: cập nhật kiến thức, kỹ năng, chuyển giao công nghệ;

c) Chương trình đào tạo, bồi dưỡng và nâng cao trình độ về chuyên môn, nghiệp vụ;

d) Chương trình giáo dục để lấy văn bằng của hệ thống giáo dục quốc dân.

2. Các hình thức thực hiện giáo dục thường xuyên để lấy văn bằng của hệ thống giáo dục quốc dân bao gồm:

a) Vừa học vừa làm;

b) Học từ xa;

c) Tự học có hướng dẫn.

Việc coi giáo dục thường xuyên là một hệ thống thành phần của hệ thống giáo dục quốc dân cũng được ghi trong Quyết định 112/2005/QĐ-TTg ngày 18/5/2005 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Đề án “Xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2005 - 2010”.

“Xây dựng cả nước trở thành xã hội học tập được dựa trên nền tảng phát triển đồng thời, gắn kết, liên thông của hai bộ phận cấu thành: Giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên của hệ thống giáo dục quốc dân, trong đó giáo dục thường xuyên thực hiện các chương trình học tập nhằm tạo các điều kiện tốt nhất đáp ứng mọi yêu cầu học tập suốt đời, học tập liên tục của mọi người công dân sẽ là một bộ phận có chức năng quan trọng, làm tiền đề để xây dựng xã hội học tập”.

II. UNESCO với vấn đề giáo dục thường xuyên

UNESCO đưa ra một quan niệm về giáo dục thường xuyên rất phù hợp với điều kiện phát triển hiện nay ở Việt Nam. Theo quan niệm đó, giáo dục thường xuyên bao gồm tất cả các cơ hội học tập mà mọi người đều mong muốn hoặc cần có sau xoá mù chữ cơ bản và giáo dục tiểu học(2).

Việc cung ứng các cơ hội học tập tiếp theo chương trình sau xoá mù chữ (Post-lieracy Programmes) có nhiều chương trình khác nhau mà nhiều nước thực hiện như:

- Chương trình nâng cao chất lượng cuộc sống (Quality of Life Improvement Programmes);

- Chương trình tương đương (Equivalency Programmes);

- Chương trình tạo thu nhập (Income - Generating Programmes);

- Chương trình đáp ứng sở thích cá nhân (Individual Interest Promotion Programmes);

- Chương trình định hướng tương lai (Future - Oriented Programmes)v.v…

Trong thực tế, những chương trình đại loại như trên thường được nhiều đối tượng hoan nghênh như những người phải bỏ học giữa chừng khi đang học trong nhà trường chính quy, những người nghèo hoặc thất nghiệp, những người di cư, những người tị nạn, những phụ nữ ít có cơ may học tập, những người về hưu v.v..

Do vậy, giáo dục thường xuyên thực hiện nhiều chức năng khác nhau. Tổng kết về vai trò cần thiết của giáo dục thường xuyên, người ta rút ra 4 chức năng chính của hệ thống giáo dục này như sau:

Chức năng thay thế: Thực hiện chức năng này, giáo dục thường xuyên tạo cơ  hội học tập thứ hai cho những ai chưa bao giờ đi học, từ đó góp phần vào việc mang lại công bằng xã hội và bình đẳng trong giáo dục.

Chức năng nối tiếp: Với những người bỏ học giữa chừng vì lý do nào đó, giáo dục thường xuyên nối lại sự đứt đoạn trong quá trình học tập của họ, làm cho việc học tập lại được thực hiện tiếp tục, liền mạch.

Chức năng bổ sung: Những người đã được cung ứng những tri thức và kỹ năng nhờ quá trình giáo dục chính quy hoặc không chính quy thường luôn luôn thấy bản thân còn thiếu hụt những kiến thức, những kỹ năng nào đó trong quá trình lao động, giao lưu xã hội… Sự thiếu hụt này làm cho họ khó thích nghi, khó phát triển trong điều kiện xã hội thay đổi nhanh chóng về các phương diện sản xuất, kinh doanh, quan hệ đối ngoại v.v… Thực tiễn đó yêu cầu con người phải cập nhật những hiểu biết, những phương pháp làm việc… cần thiết mà cuộc sống đòi hỏi.

Chức năng hoàn thiện: Với chức năng này, giáo dục thường xuyên mang lại cơ hội học tập mà qua đó con người làm cho vốn kinh nghiệm của mình đầy đủ hơn, năng lực hoạt động được nâng cao, sức khoẻ được tăng cường, những phẩm chất nhân cách được phát triển hài hoà và hoàn chỉnh hơn.

UNESCO đánh giá cao vai trò của giáo dục thường xuyên thông qua những nhận định sau đây:(3)

- Giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên đều có tầm quan trọng như nhau đối với sự phát triển tài nguyên con người;

- Giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên bổ sung cho nhau và vì vậy, các chương trình giáo dục tương đương cần phải được khuyến khích;

- Cả giáo dục chính quy lẫn giáo dục thường xuyên đều có đối tượng riêng của mình;

- Giáo dục thường xuyên là một phần tiếp tục của giáo dục chính quy, vì vậy cả hai loại chương trình này cần được tiến hành song song với nhau;

- Giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên cần phải có những tài liệu học tập tốt mang tính đặc thù, đều phải có giáo viên chuyên trách và sự trợ giúp về tài chính;

- Giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên cần được tổ chức một cách hệ thống;

- Bồi dưỡng cập nhật kiến thức cho giáo viên và người học đều cần thiết đối với cả giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên, nhất là phải thường xuyên tổ chức các khoá huấn luyện về đổi mới phương pháp dạy học cho người dạy;

- Việc nghiên cứu lý luận và biên soạn giáo trình, học liệu phù hợp với các chương trình giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên là rất cần thiết;

- Giáo dục thường xuyên cần đến sự tham gia của cộng đồng nhiều hơn so với giáo dục chính quy;

- Chất lượng và hiệu quả của chương trình giáo dục thường xuyên phụ thuộc vào mức độ đáp ứng nhu cầu của con người dân ở từng cộng đồng;

- Giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên đều phải hướng tới sự phát triển của các kỹ năng hành dụng “Học đi đôi với hành”. Đó là điều hết sức quan trọng đối với giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên;

- Việc quản lý, điều hành và đánh giá giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên phải được thiết lập một cách có tổ chức;

- Mặc dù cả giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên đều được cấu trúc theo chương chình chuẩn, nhưng chương trình của giáo dục thường xuyên mang tính mềm dẻo hơn.

UNESCO đã có 14 khuyến cáo về giáo dục và hầu như 14 điều này đều nói tới giáo dục thường xuyên(4):

1. Giáo dục thường xuyên phải giữ vai trò chủ đạo trong mọi chính sách giáo dục tại các nước phát triển và đang phát triển.

2. Giáo dục thường xuyên qua mọi lứa tuổi, trong suốt cuộc đời, không chỉ bó hẹp trong những bức tường nhà trường, nền giáo dục phải được cải tổ toàn diện - Giáo dục phải trở thành phong trào quần chúng thực sự.

3. Giáo dục phải được tiến hành và tiếp thu bằng nhiều cách khác nhau. Điều quan trọng không phải là học theo cách nào, mà là học cái gì, học được cái gì.

4. Xoá bỏ hàng rào giả tạo và lỗi thời giữa các ngành giáo dục và các cấp giáo dục, giữa giáo dục chính quy và giáo dục không chính quy, xoá bỏ sự cách biệt cứng nhắc giữa giáo dục phổ thông, giáo dục khoa học kỹ thuật, giáo dục chuyên nghiệp. Ngay từ cấp cơ sở, giáo dục đã mang lại tính kết hợp giữa lý thuyết với công nghệ, với thực hành thủ công.

5. Giáo dục không chỉ nhằm mục đích đào tạo thanh niên cho những công việc cụ thể, mà còn trang bị cho học sinh khả năng thích ứng với nhiều loại công việc khác nhau.

6. Không chỉ riêng hệ thống nhà trường phải chịu trách nhiệm về đào tạo kỹ thuật, mà cả các xí nghiệp, các ngành kinh doanh và hệ thống giáo dục ngoài nhà trường cũng phải chia sẻ trách nhiệm ấy với các trường học.

7. Giáo dục đại học cần được mở rộng và đa dạng để đáp ứng các đòi hỏi của từng con người và cả cộng đồng. Muốn vậy, trước hết phải có sự thay đổi trong quan niệm và thái độ cổ truyền với trường đại học.

8. Được nhận vào các ngành giáo dục và các nghề nghiệp khác nhau chỉ tuỳ thuộc ở kiến thức, khả năng và lực học của mỗi người.

9. Đạo đức mới của giáo dục là nhằm làm cho mỗi người trở thành thầy dạy và người kiến tạo nên sự tiến bộ văn  hoá của bản thân mình.

10. Khi soạn thảo và đặt kế hoạch cho các hệ thống giáo dục cần tính đến khả năng do kỹ thuật mới đem lại.

11. Thầy giáo phải được đào tạo để trở thành những chuyên gia dạy học giỏi.

12. Các chương trình đào tạo thầy giáo cần triệt để sử dụng các thiết bị hiện đại và các phương pháp giảng dạy mới nhất.

13. Trái với thông lệ cổ truyền, việc giảng dạy phải thích nghi với người học, chứ không phải người học phải tuân theo những quy định cứng nhắc đã định sẵn từ trước trong công việc giảng dạy.

14. Người học và công chúng nói chung cần được có tiếng nói nhiều hơn trong việc quyết định các vấn đề có liên quan đến giáo dục.

Những khuyến cáo này được UNESCO đưa ra cách đây hơn 20 năm, song đến nay đọc lại, ta vẫn thấy dường như đó là những vấn đề thời sự ở nước ta trong thời điểm này./.

 

Chú thích:

(1) Luật Giáo dục năm 2005 - Nhà XB Lao động

(2) Hội thảo “Chương trình giáo dục cho mọi người ở Châu á - Thái Bình Dương” tổ chức tại Australia tháng 11/1987.

(3) Hoàng Minh Luật - Định hướng chiến lược phát triển giáo dục thường xuyên và xây dựng Trung tâm học tập cộng đồng - Hội thảo “Giáo dục thường xuyên Việt Nam - Tầm nhìn trong những thập kỷ đầu của thế kỷ XXI”. Hà Nội, 2007.

(4) Xem “Hợp tuyển Tạp chí Thông tin, số kỷ niệm 40 năm UNESCO Paris, 5.6/1986 trang 33- 34. Thư viện UNESCO Việt Nam.

GS. TS Phạm Tất Dong


Nguồn: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Bài tin liên quan
Tin tức
Tin đọc nhiều